CHUYÊN ĐỀ MỘT SỐ ĐIỂM MỚI LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Lượt xem: 116

(Số 52/2014/QH13, Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII,

 kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015).

 

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình quy định về điều kiện kết hôn và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình cụ thể:

Khoản 1 điều 8. Điều kiện kết hôn.

Nam từ đủ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi mới đủ tuổi kết hôn.

Như vậy: Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một người hoặc cả hai người chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định.

Khoản 2 điều 5. Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình.

Nghiêm cấm: Việc kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có cùng dòng máu trực hệ “Anh chị, em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha hoặc anh chị em ruột”; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, giữa nhưng người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

1. Thực trạng:

Như vây các trường hợp trên vi phạm luật Hôn nhân và gia đình ảnh hưởng đến chất lượng dân số, giống nòi, ảnh hưởng đến xã hội. Trên thực tế hiện nay tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vẫn xảy ra ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh:

Từ năm 2015 đến năm 2017 có 1.828 người tảo hôn, năm 2020 có 307 người tảo hôn, 9 tháng đầu năm 2021 có 175 người tảo hôn. Độ tuổi tảo hôn từ 16 - 19 tuổi đối với Nam, từ 14 - 17 tuổi đối với Nữ (cá biệt có trường hợp 12 - 13 tuổi). Chủ yếu tập trung vào đồng bào dân tộc Mông, Dao, Phù Lá và một số ít các dân tộc thiểu số khác.

Kết hôn cận huyết thống từ năm 2015 đến tháng 9/2017 là 38 Trường hợp (19 cặp). Từ năm 2018 đến tháng 6/2019, hôn nhân cận huyết thống đã giảm mạnh còn 03 cặp, năm 2021 không có trường hợp nào kết hôn cận huyết thống, kết hôn cận huyết thống chủ yếu kết hôn ở đời thứ 3 (con anh trai lấy con em trai; con chị gái lấy con em gái). Cá biệt có trường hợp chú lấy cháu xảy ra ở xã Nậm Xé, huyện Văn Bàn.

2. Hậu quả do tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống gây ra.

2.1. Hậu quả do tảo hôn:

- Trẻ em sinh ra còi cọc, thấp bé nhẹ cân, chậm phát triển cả về chiều cao và trí tuệ, suy dinh dưỡng; có trường hợp bị di tật, rất dễ mắc bệnh ở độ tuổi từ 1 - 5 tuổi, nhiều trường hợp tử vong do sinh non, sức khoẻ yếu; ảnh hưởng đến chất lượng dân số, ảnh hưởng đến giống nòi, ảnh hưởng đến xã hội.

- Đối với người mẹ do chưa đủ tuổi sinh đẻ (còn gọi là trẻ em sinh ra trẻ em) dẫn đến suy kiệt sức khoẻ; ốm đau, bệnh tật mất khả năng lao động; mất cơ hội học tập, không có việc làm. Kinh tế gia đình rất khó khăn, ảnh hưởng đến cộng đồng, xã hội.

- Do chưa đủ tuổi lên không được đăng ký kết hôn vì vậy trẻ em sinh ra chưa được khai sinh do đồng bào dân tộc thiểu đó không muốn con mình mang họ mẹ. Vì không khai sinh cho trẻ em lên không được hưởng các chính sách về y tế, an sinh xã hội và đi học.

2.2. Hậu quả do hôn nhân cận huyết thống gây ra.

Trẻ em sinh ra hay mắc các bệnh bẩm sinh như:

- Bệnh đao;

- Bệnh mù mầu;

- Bệnh bạch tạng;

- Bệnh tan máu bẩm sinh;

- Bệnh vẩy nến;

- Bệnh đao;

- Bệnh dị tận bẩm sinh...

Tất cả các trường hợp trẻ em sinh ra từ những cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống đều mắc bệnh hoặc thiểu năng trí tuệ, không có khả năng lao động trở thành gánh nặng cho gia đình, những gia đình kết hôn cận huyết thống kinh tế khó khăn, rất khó hoà nhập cộng đồng do tự ti mặc cảm. Kết hôn cận huyết thống anh hưởng đến giống nòi, ảnh hưởng đến chất lượng dân số, ảnh hưởng đến dân tộc đó.

3. Nguyên nhân.

Độ tuổi tảo hôn từ 13 – 17 tuổi, đây là độ tuổi chưa đủ suy nghĩ, thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống, nhưng lại muốn vươn lên thành người lớn, độ tuổi tò mò, thích khám phá, chưa hiểu biết về quan hệ tình dục, vì vậy khi yêu đương rất dễ có thai ngoài ý muốn dẫn đến tảo hôn;

Do phong tục tập quán lạc hậu như: Kéo vợ, thách cưới cao, muốn cho con lấy vợ, lấy chồng sớm để có thêm người làm, có con, cháu sớm...

Do ảnh hưởng từ công nghệ thông tin... dẫn đến trẻ em nhất là trẻ em người dân tộc Mông tò mò, yêu đương sớm, nhiều trường hợp đang học Trung học phổ thông cơ sở, dẫn đến bỏ học để lấy vợ lấy chồng;

Do bố, mẹ đi làm thuê xa gia đình, giao việc trông coi con cái cho ông, bà và nhà trường, việc quản lý, giáo dục con cái không được quan tâm, các cháu tự do quan hệ dẫn đến tảo hôn;

Do công tác tuyên truyền ở cơ sở, trong trường học còn hạn chế, phương pháp tuyên truyền còn máy móc, chưa sáng tạo, còn chung chung, chưa phù hợp với phong tục tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số;

Do công tác quản lý nhà nước về hôn nhân và gia đình ở cơ sở còn nhiều hạn chế;

Tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm do bị người dân phản ứng, không muốn xử phạt vi phạm hành chính ở cơ sở vẫn xảy ra. Nhiều nơi còn coi nhẹ công tác phòng chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống do chưa biết rõ được hậu quả của nó.

4. Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

4.1. Xử phạt vi phạm hành chính về tảo hôn

Điều 58 khoản 1, 2 Nghị định 82/2020/NĐ-CP

- Phạt tiền từ 1.000.000 –> 3.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lâý vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn;

- Phạt tiền từ 3.000.000 –> 5.000.000 đồng đối với những người duy trì quan hệ vợ, chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn, mặc dù đã có bản án, quyết định có hiệu lực của Toà án.

4.2. Xử phạt vi phạm hành chính về hôn nhân cận huyết thống

Điều 59 khoản 1, 2 Nghị định 82/2020/NĐ-CP.

- Phạt tiền từ 3.000.000 –> 5.000.000 đồng đối với những người kết hôn hoặc chung sống như vợ. chồng giữa những người từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

- Phạt tiền từ 10.000.000 –> 20.000.000 đồng đối với những người kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu trực hệ hoặc những người có họ trong phạm vi ba đời.

5. Giải pháp để giảm thiểu tình trạng tảo hôn và kết hôn cận huyết thống.

5.1. Công tác phòng chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trách nhiệm của toàn xã hội.

5.2. Tăng cường công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số về tác hại, hậu quả do tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống gây ra. Từ đó thay đổi hành vi trong hôn nhân và gia đình. Đây là giải pháp chủ yếu căn cơ do đó phài làm thường xuyên, lâu dài, bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng sử dụng phương pháp trực quan là cơ bản như: Sân khấu hoá, chiếu phim, tổ chức phiên toà giả định, trình chiếu, pa- nô, áp-phích...về hậu quả do tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống gây ra. Nội dung cần ngắn gọn, dễ hiểu, dể nhớ, dùng nhiều hình ảnh minh hoạ.

5.3. Tăng cường công tác tuyên truyền trong trường học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, quản lý học sinh ở các trường nội trú, bán trú để hạn chế tình trạng học sinh tự do quan hệ yêu đương.

5.4. Tổ chức ký cam kết giữa hi bộ với đảng viên, giữa chi bộ với đảng bộ xã. Giữa Trưởng thôn với Chủ tịch UBND xã, giữa hội viên, đoàn viên với các tổ chức đoàn thể quần chúng.

5.5. Tuyên truyền vận động ông mai, bà mối, trưởng dòng họ, phát huy vai trò của người có uy tín trong công tác phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

5.6. Tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở cơ sở. Tăng cường xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

5.7. Sửa đổi bổ sung, đưa công tác phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vào quy ước thôn, bản.

5.8. Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thương đối với những tập thể, cá nhân thực hiện tốt. Xử phạt nghiêm đối với tổ chức, cá nhân vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình./.

 

Tin tức
Đăng nhập
Thống kê truy cập
  • Đang online: 19
  • Hôm nay: 291
  • Trong tuần: 11,397
  • Tất cả: 1,116,199